Tổng quan về bệnh Gút

Bệnh gút (Gout) là bệnh viêm khớp do vi tinh thể, đặc trưng bởi những đợt viêm khớp cấp tái phát, có lắng đọng tinh thể muối urat natri trong các mô, gây ra do tăng acid uric trong máu. Đây là bệnh do rối loạn chuyển hóa nhân purin, thuộc nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa.


Gout là một trong những bệnh lý được phát hiện rất sớm, ngay từ thời Hylạp cổ (thế kỷ thứ V trước công nguyên). Hypocrate đã mô tả những biểu hiện rất đặc trưng của bệnh là sưng, nóng, đỏ và rất đau ở ngón chân cái. Tuy nhiên, suốt gần 2000 năm sau những nhận định của ông, nhân loại không biết thêm đáng kể gì về căn bệnh này, ngoại trừ một mô tả hết sức sống động và chân thực của Sydenham một bác sỹ người Anh, cũng là một bệnh nhân gout. Ngoài vị trí ngón chân cái, Sydenham còn nêu thêm một số vị trí tấn công khác của gout như khớp bàn, ngón chân, khớp cổ chân.
Cho tới tận cuối thế kỷ 18, Schelle, Bargman và Wollaston mới tìm thấy các tinh thể urat trong các u cục quanh khớp, trong các viên sỏi ở hệ tiết niệu của bệnh nhân gout, đồng thời phát hiện sự khác nhau giữa lượng acid uric ở người bình thường và người bị bệnh. Đến những năm 60 của thế kỷ XX, các nhà khoa học đã nghiên cứu sâu hơn về sinh học tế bào, cơ chế sinh lý bệnh của tình trạng tăng acid uric máu và bệnh gout. Do đó người ta biết rõ rằng gout là một bệnh lý do rối loạn chuyển hóa gây ra bởi tình trạng lắng đọng các tinh thể urat ở các mô của cơ thể do tăng acid uric trong máu.

Bệnh gout có hai thể nguyên phát và thứ phát. Bệnh gout nguyên phát là thể bệnh thường gặp nhất (chiếm 99% các trường hợp) nguyên nhân là do rối loạn chuyển hóa acid uric. Bệnh gout thứ phát thường gặp sau quá trình phát triển của một số bệnh như các bệnh thận (suy thận mạn, thận đa nang, nhiễm độc chì), các bệnh do tiêu tế bào quá mức (bệnh bạch cầu thể tủy mạn tính, thiếu máu huyết tán, bệnh vẩy nến diện rộng,…) hoặc do sử dụng một số loại thuốc như thuốc lợi tiểu, corticoid,…
Bệnh chủ yếu gặp ở nam giới trưởng thành, tuổi bắt đầu mắc bệnh từ 35 đến trên 40 và ngày càng có xu hướng trẻ hóa. Một số nghiên cứu đã ghi nhận đã có những bệnh nhân gout ở lứa tuổi 20-30 tuổi. Bệnh biểu hiện bằng những đợt viêm khớp cấp và sau đó tiến triển thành mạn tính, gây tổn thương mô mềm và thận. Bệnh tiến triển qua 4 giai đoạn: giai đoạn tăng acid uric máu không triệu chứng, các cơn gout cấp, giai đoạn gian phát và giai đoạn viêm khớp mạn tính.
Gout mạn tính thường tiến triển chậm và kéo dài tăng dần, lúc đầu tổn thương ở ngón bàn chân rồi cổ chân, gối, khuỷu và ngón bàn tay. Thời gian tiến triển từ 10-20 năm, trong khi diễn biến mạn tính có thể ghép vào những đợt viêm cấp tính làm bệnh nặng thêm. Ở giai đoạn cuối cùng, bệnh nhân mất khả năng vận động, và tử vong vì các biến chứng thận, nhiễm khuẩn suy mòn. Nhưng nếu được phát hiện sớm, điều trị và kiểm soát tốt, bệnh nhân sẽ tránh được những ảnh hưởng bệnh lý thứ phát.
Tuy nhiên, có 3 khó khăn chính khi điều trị bệnh gout. Đầu tiên là tác dụng phụ của một số thuốc điều trị gout như colchicin có thể gây tiêu chảy, allopurinol gây dị ứng, các thuốc tăng thải acid uric có thể gây sỏi thận. Thứ hai là cơ địa dị ứng thuốc của bệnh nhân. Có bệnh nhân gout bị dị ứng với nhiều thuốc điều trị như colchicin và allopurinol. Thứ ba là do sự thiếu tuân thủ điều trị của người bệnh. Bệnh nhân gout thường chỉ quan tâm đến bệnh và dùng thuốc trong đợt cấp dẫn đến bệnh vẫn tiến triển nặng dần.
Một số bệnh nhân lạm dụng thuốc giảm đau dẫn đến những tác dụng phụ đáng tiếc như xuất huyết tiêu hóa, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não. Nhiều bệnh nhân có chế độ ăn uống và sinh hoạt không điều độ nên bệnh vẫn có nguy cơ tái phát. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức cho cộng đồng để thực hiện tốt phòng, tránh và theo dõi điều trị bệnh là một việc làm hết sức cần thiết.

Chia làm hai loại gút nguyên phát (đa số các trƣờng hợp) và gút thứ phát.

a, Gout nguyên phát:

– Tất cả các tế bào sống đều có chứa DNA, được cấu tạo từ một nhóm nguyên liệu trong đó có một chất hoá học gọi là purin. Các loại thực phẩm có hàm lượng purin rất khác nhau. Một số loại thịt động vật, hải sản, đậu khô… chứa một hàm lượng purin cao. Khi cơ thể sử dụng nhiều thức ăn giàu purin, lượng purin dư thừa trong quá trình chuyển hoá được biến đổi thành acid uric và thận là cơ quan chủ yếu đào thải acid uric.
Ở người bình thường, lượng acid uric trong máu được duy trì ở mức cố định: 5mg% ở nam và 4mg% ở nữ, tùy độ tuổi và có sự thay đổi. Vì một lý do nào đó, hàm lượng purin trong cơ thể tăng, quá trình chuyển hóa chúng thành acid uric tăng. Khi cơ thể tạo ra quá nhiều acid uric hoặc thải acid này ra nước tiểu quá ít thì nồng độ acid uric trong máu tăng lên, sự chuyển hóa acid uric thành muối urat tăng theo dẫn tới sự lắng đọng những tinh thể muối urat sắc nhọn hình kim tại các khớp, sụn, xương, tổ chức dưới da, gây ra viêm sưng khớp và biểu hiện triệu chứng viêm tại những vị trí lắng đọng gây nên bệnh gút

b) Gút Thứ phát: Một số hiếm do các rối loạn về gen (nguyên nhân di truyền). Ngoài ra có thể do tăng sản xuất acid uric hoặc giảm đào thải acid  uric hoặc cả hai, cụ thể:
– Suy thận nói riêng và các bệnh lý làm giảm độ thanh lọc acid uric của cầu thận nói chung
– Các bệnh về máu: bệnh bạch cầu cấp.
– Dùng thuốc lợi tiểu như Furosemid, Thiazid, Acetazolamid…
– Sử dụng các thuốc ức chế tế bào để điều trị các bệnh ác tính; thuốc chống lao (éthambutol, pyrazinamid)…
Các yếu tố nguy cơ của bệnh là tăng huyết áp, béo phì và hội chứng chuyển hóa, tăng insulin máu và sự đề kháng insulin, uống nhiều rượu.

Có thể nói một cách tóm tắt: gout cấp tính biểu hiện điển hình bằng những đợt viêm cấp tính và dữ dội của khớp ngón bàn chân cái. Vì vậy, người ta còn gọi là bệnh “gout do viêm”.

Hình ảnh minh họa: biểu hiện bệnh gút
Hình ảnh minh họa

* Cơn viêm cấp của bệnh thường xuất hiện sau một số hoàn cảnh thuận lợi như:
–    Sau một bữa ăn nhiều rượu thịt.
–    Sau chấn thương hoặc phẫu thuật.
–    Sau lao động nặng, đi lại nhiều, đi giầy quá chật.
–     Sau những sang chấn về tinh thần: quá xúc động, cảm động, quá căng thẳng, lo lắng…
–    Nhiễm khuẩn cấp.
–    Sau khi dùng một số thuốc như lợi tiểu nhóm chlorothiazid, tinh chất gan, vitamin B12, steroid,…
Khoảng 50% bệnh nhân có dấu hiệu báo trước như đau mỏi khớp, rối loạn tiêu hóa, nhức đầu, mệt mỏi, đi tiểu nhiều và nóng buốt, sốt nhẹ,…

* Triệu chứng cơn gout cấp tính:
–    Khoảng 60-70% cơn gout cấp biểu hiện ở khớp bàn ngón chân cái.
–     Đang đêm bệnh nhân thức dậy vì đau ở khớp bàn chân cái (một bên), đau dữ dội ngày càng tăng, đau không thể chịu nổi, chỉ một va chạm nhẹ cũng gây đau tăng.
–     Ngón chân sưng to, phù nề, căng bóng, nóng đỏ, xung huyết, trong khi các khớp khác bình thường.
–     Toàn thân: sốt nhẹ, mệt mỏi, lo lắng, mắt nổi tia đỏ, khát nước nhiều, táo bón, tiểu tiện ít và đỏ.
–     Đợt viêm kéo dài từ vài ngày đến hai tuần (trung bình là 5 ngày), đêm đau nhiều hơn ngày, viêm nhẹ dần, đau giảm, phù bớt, da tím dần, hơi ướt; ngứa nhẹ rồi bong
vẩy và khỏi hẳn, không để lại dấu vết gì ở chân. Bệnh có thể tái phát vài lần trong một năm, thường hay gặp vào mùa xuân hoặc mùa thu.
* Xét nghiệm và X quang:
–    Chụp X quang không có gì thay đổi so với bình thường.
–     Xét nghiệm: acid uric máu tăng trên 7mg% (trên 416,5 micromol/l), bạch cầu tăng, tốc độ máu lắng tăng, chọc dịch ở nơi viêm có thể thấy tinh thể urat nằm trong bạch cầu, nhưng cũng có khi acid uric trong máu không tăng.

* Thể lâm sàng:
–    Thể lâm sàng theo vị trí:
+ Ngoài vị trí khớp bàn ngón chân cái chiếm 60-70%, các vị trí khác ở bàn chân đứng hàng thứ hai như cổ chân, các ngón chân, sau đó là khớp gối, rất ít khi thấy ở chi trên.
Thể đa khớp (từ 5-10%): bệnh nhân sốt, sưng đau lần lượt từ khớp này sang khớp khác, rất dễ nhầm với thấp khớp cấp, viêm đa khớp dạng thấp.
–    Thể theo triệu chứng và tiến triển:
+ Thể tối cấp: sưng tấy dữ dội, đau nhiều, sốt cao dễ nhầm với viêm khớp do vi khuẩn.
+ Thể nhẹ kín đáo: chỉ mệt mỏi, không sốt, đau ít, thường bị bỏ qua.
+ Thể kéo dài: thời gian kéo dài, diễn biến từ khớp này sang khớp khác.

Gout mạn tính biểu hiện bằng dấu hiệu nổi các cục u (tôphi) và viêm đa khớp mạn tính, do đó còn được gọi là “gout lắng đọng”. Gout mạn tính có thể tiếp theo gout cấp tính nhưng phần lớn là bắt đầu từ từ tăng dần không qua các đợt cấp.


* Triệu chứng lâm sàng ở khớp:
–      Nổi u cục (tophi): là hiện tượng lắng đọng urat ở xung quanh khớp, ở màng hoạt dịch, đầu xương, sụn….
+ Vị trí: u cục (tôphi) thấy ở trên các khớp bàn ngón chân cái, các ngón khác, cổ chân, gối, khuỷu, cổ tay, bàn ngón tay và đốt ngón gần, có một vị trí rất đặc biệt là trên sụn vành tai. Chưa thấy ở háng, vai và cột sống.
+ Tính chất: kích thước to nhỏ không đồng đều, từ vài milimet đến nhiều centimet đường kính, lồi lõm, hơi chắc hoặc mềm, không di động do dính vào nền ở dưới, không đối xứng 2 bên và không cân đối, ấn vào không đau, được bọc bởi một lớp da mỏng, phía dưới thấy cặn trắng như phấn, đôi khi da bị loét và dễ chảy nước vàng và chất trắng như phấn.
–      Viêm đa khớp: Các khớp nhỏ và nhỡ bị viêm là bàn ngón chân và tay, đốt ngón gần, cổ tay, gối, khuỷu, viêm có tính chất đối xứng, biểu hiện viêm thường nhẹ, không đau nhiều, diễn biến khá chậm. Các khớp háng, vai và cột sống không bị tổn thương.
–    Biểu hiện ngoài khớp:
+ Urat có thể lắng đọng ở thận dưới hai hình thức:
Lắng đọng rải rác ở nhu mô thận: hoặc không thể hiện triệu chứng gì, chỉ phát hiện qua giải phẫu bệnh, hoặc gây viêm thận, bể thận.
Gây sỏi đường tiết niệu: sỏi acid uric ít cản quang, chụp thường khó thấy, phát hiện bằng siêu âm, chụp UIV. Sỏi thận dễ dẫn tới viêm nhiễm, suy thận. Đây là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tiên lượng của bệnh.
+ Urat có thể lắng đọng ở một số cơ quan ngoài khớp như:
Lắng đọng ở gân, túi thanh dịch, có thể gây đứt hoặc chèn ép thần kinh (hội chứng đường hầm).
Lắng đọng ở ngoài da, móng tay, móng chân thành từng vùng và mảng, thường dễ
nhầm với những bệnh ngoài da khác như vẩy nến, nấm…
Lắng đọng ở tim: urat có thể lắng đọng ở màng ngoài tim, cơ tim, có khi cả van tim nhưng rất hiếm.
* Xét nghiệm và X quang:
–    Xét nghiệm:
+ Tốc độ lắng máu tăng trong đợt tiến triển của bệnh. Các xét nghiệm huyết học khác không có gì thay đổi.
+ Acid uric máu tăng trên 7mg% (trên 416 micromol/l).
+ Acid uric niệu/24h: bình thường từ 400-450mg, tăng nhiều trong gout nguyên phát; giảm rõ với gout thứ phát sau bệnh thận.
+ Dịch khớp có biểu hiện viêm rõ rệt (lượng muxin giảm, bạch cầu tăng nhiều). Đặc biệt thấy những tinh thể urat monosodic nằm trong hoặc ngoài tế bào.
+ X quang: Dấu hiệu quan trọng nhất của bệnh là khuyết xương hình hốc ở các đầu xương, hay gặp ở xương đốt ngón chân, tay, xương bàn tay, chân, đôi khi ở cổ tay, chân, khuỷu và gối. Khuyết lúc đầu ở dưới sụn khớp và vỏ xương, như phần vỏ được thổi vào, bung ra (hình lưỡi liềm), khe khớp hẹp rõ rệt. Sau cùng hình khuyết lớn dần và tạo nên hình hủy xương rộng xung quanh có những vết vôi hoá. Nếu bệnh tiến triển lâu có thể thấy những hình ảnh thoái hóa thứ phát (hình gai xương).

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh gout (cấp và mạn)


Có thể áp dụng một trong các tiêu chuẩn sau:
–   Tiêu chuẩn Bennet và Wood (1968) Độ nhạy 70%, độ đặc hiệu 82,7%
Tiêu chuẩn Bennet và Wood (1968)  được áp dụng rộng rãi nhất ở Việt nam do dễ nhớ và phù hợp với điều kiện thiếu xét nghiệm.

Hoặc tìm thấy tinh thể natri urat trong dịch khớp hay trong các hạt tôphi.
b. Hoặc tối thiểu có 2 trong các yếu tố sau đây:
+ Tiền sử hoặc hiện tại có tối thiểu 2 đợt sưng đau của một khớp với tính chất khởi phát đột ngột, đau dữ dội, và khỏi hoàn toàn trong vòng 2 tuần.
+ Tiền sử hoặc hiện tại có sưng đau khớp bàn ngón chân cái với các tính chất như  trên.
+ Có hạt tôphi
+ Đáp ứng tốt với colchicin (giảm viêm, giảm đau trong 48 giờ) trong tiền sử hoặc hiện tại.
Chẩn đoán xác định khi có tiêu chuẩn a hoặc 2 yếu tố của tiêu
chuẩn b.
–  Theo tiêu chuẩn của ILAR và Omeract năm 2000 Độ nhạy 70%, đc hiệu 78,8%
+  Có tinh thể urat đặc trƣng trong dịch khớp, và / hoặc:
+  Hat tôphi được chứng minh có chứa tinh thể urat bằng phương pháp hóa học hoặc kính hiển vi phân cực, và / hoặc:
+  Có 6 trong số 12 biểu hiện lâm sàng, xét nghiệm và X quang sau:
1. Viêm tiến triển tối đa trong vòng một ngày.
2. Có hơn một cơn viêm khớp cấ
3. Viêm khớp ở một khớ
4. Đỏ vùng khớp
5. Sưng, đau khớp bàn ngón chân
6. Viêm khớp bàn ngón chân I ở một bên.
7. Viêm khớp cổ chân một bên.
8. Tôphi nhìn thấy được.
9. Tăng acid uric máu (nam ≥ 420 Mmol/l, nữ ≥ 360Mmol/l)
10. Sưng đau khớp không đối xứng.
11. Nang dưới vỏ xương, không có hình khuyết xương trên X quang
12. Cấy vi khuẩn âm tính.

Nguyên tắc chung
– Điều trị viêm khớp trong cơn gút cấp
– Dự phòng tái phát cơn gút, dự phòng lắng đọng urat trong các tổ chức và dự phòng biến chứng thông qua điều trị hội chứng tăng acid uric máu với mục tiêu kiểm soát acid uric máu dưới 360 mol/l (60 mg/l) với gút chưa có hạt tô phi và dưới 320 mol/l (50 mg/l) khi gút có hạt tô phi.
Thuốc điều trị đợt gout cấp là thuốc chống viêm không steroid, colchicin, corticosteroid, trong đó thuốc chống viêm không steroid được ưu tiên lựa chọn hàng đầu. Sử dụng thuốc tùy theo bệnh nhân và các bệnh lý kèm theo như bệnh thận hay dạ dày tá tràng.
–     Thuốc chống viêm không steroid: Đây là thuốc được lựa chọn hàng đầu để điều trị đợt gout cấp ở hầu hết bệnh nhân. Tuy nhiên, đối với người cao tuổi và người có bệnh kèm theo, cần thận trọng, cân nhắc khi dùng, chỉ nên sử dụng thuốc này trong thời gian ngắn và với liều thấp. Thuốc cần tránh dùng đối với bệnh nhân bị bệnh thận, viêm loét dạ dày, tá tràng hay bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông.
–     Colchicin: là thuốc chống phân bào, được chiết xuất từ rễ cỏ Colchicum autumnal, là thuốc điều trị Gout lâu đời nhất. Người ta đã sử dụng loại cỏ này để điều trị gout từ 600 năm trước công nguyên. Do thuốc có ái lực đặc biệt với bạch cầu đa nhân trung tính nên nó làm giảm sự di chuyển của các bạch cầu, ức chế thực bào các vi tinh thể muối urat và do đó làm ngừng sự tạo thành các acid lactic, giữ cho độ pH tại chỗ được bình thường, bởi vì độ pH là yếu tố tạo điều kiện cho các tinh thể urat mononatri kết tủa tại các mô ở khớp. Thuốc không có tác dụng lên sự thải trừ acid uric theo nước tiểu cũng như lên nồng độ, độ hòa tan hay khả năng gắn với protein huyết thanh của acid uric hay urat nên không làm thay đổi nồng độ acid uric máu. Tuy nhiên, thuốc có nhiều tác dụng phụ không mong muốn, đứng đầu là các rối loạn dạ dày, ruột như tiêu chảy, nôn, đau bụng. Hiếm gặp hơn là các phản ứng dị ứng da, rụng tóc, các bệnh cơ. Việc dùng thuốc kéo dài có thể dẫn tới suy tủy xương.
–     Corticosteroid: Trong một số trường hợp đặc biệt, với mục đích điều trị cơn gout cấp có thể sử dụng corticoid đường uống ngắn ngày hoặc đường tiêm nội khớp. Nhưng do thuốc có nhiều tác dụng phụ và do tình trạng lạm dụng thuốc ở nước ta nên thuốc này không được khuyến khích sử dụng.

Mục tiêu điều trị dự phòng cơn gout cấp là giảm acid uric máu, hạn chế sự lắng đọng urat trong các mô và tổ chức, từ đó hạn chế được các cơn gout tái phát và ngăn ngừa hình thành gout mạn tính.
–     Colchicin: Được sử dụng lần đầu năm 1936 để dự phòng cơn gout cấp tái phát nhưng không dự phòng được lắng đọng urat về sau hay sự phát triển các hạt tophi.
–     Các thuốc hạ acid uric máu: Có nhiều loại thuốc hạ acid uric máu. Tùy theo cơ chế tác dụng của thuốc tác động vào khâu nào của quá trình chuyển hóa acid uric trong cơ thể mà người ta chia ra 3 nhóm: Nhóm ức chế tổng hợp, nhóm tăng thải và nhóm làm tiêu acid uric.

Mục tiêu điều trị gout mạn tính là điều trị giảm acid uric máu để tránh biến chứng suy thận mạn. Thường sử dụng nhóm thuốc ức chế tổng hợp acid uric và có thể kết hợp dùng thêm colchicin tùy theo trường hợp. Có thể sử dụng thuốc chống viêm không steroid cho những bệnh nhân viêm khớp còn đang tiến triển.
Nếu có tổn thương thận phải chú ý đến tình trạng nhiễm khuẩn (viêm thận kẽ), tình trạng suy thận tiềm tàng, cao huyết áp, sỏi thận,…. Tiên lượng của bệnh gout tùy thuộc vào mức độ tổn thương thận.
Một số u cục (tôphi) quá to cản trở vận động có thể chỉ định phẫu thuật cắt bỏ (tôphi ở ngón chân cái không đi giày được, ở khuỷu tay khó mặc áo,…).

Thuốc colchicin

Thuốc Colchicin 1mg và cách sử dụng

THUỐC KÊ ĐƠN, THUỐC NÀY CHỈ SỬ DỤNG THEO SỰ KÊ ĐƠN CỦA BÁC SĨ * THÀNH PHẦN: Mỗi viên nén chứa - Colchicin …………………………………..…………….………….……..……………1 mg - Tá...
thuoc-dexamethasone-de-xa

Những điều cần biết về thuốc corticoid

CORTICOID: Thuốc hay cần có thầy giỏi Cách đây vài mươi năm, viên thuốc "hạt dưa" đã trở nên quen thuộc đến mức người dân...
Thuốc mobic 7,5mg hình ảnh internet

Tác dụng của thuốc mobic

Thuốc Mobic 7,5mg là thuốc chống viêm không steroid được chỉ định điều trị triệu chứng trong: Viêm xương khớp (bệnh hư khớp, bệnh thoái...
thuoc-probenecid

Thuốc Probenecid chữa trị bệnh gút

Thuốc Probenecid (Benemid, Probalan) : là thuốc tăng axit uric niệu tiêu chuẩn.  Một loại thuốc tăng axit uric niệu mạnh hơn, benzbromarone, có thể có...
thuoc-medrol

Tác dụng và cách dùng thuốc Medrol 16mg

Methyl prednisolon là gì? Tên chung quốc tế: Methylprednisolone. Mã ATC: D07A A01; D10A A02; H02A B04. Loại thuốc: Thuốc chống viêm corticosteroid. Dạng thuốc và hàm lượng ...

CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG, SINH HOẠT CHO NGƯỜI BỊ BỆNH GOUT


Chế độ ăn
Mặc dù hiện nay đã có nhiều thuốc dùng để điều trị cho bệnh nhân gout nhưng việc ăn uống điều độ và đúng mực không chỉ rất quan trọng mà còn là cơ sở cho việc điều trị bệnh gout bởi vì chế độ ăn hợp lý cũng góp phần đáng kể vào việc giảm acid uric máu.
– Có thể phòng tránh được bệnh gout bằng việc thực hiện một chế độ ăn uống sinh hoạt lành mạnh và khoa học. Ăn kiêng một cách có hiệu quả nhất là sử dụng những thực phẩm ít purin để hàng ngày cơ thể phải tiếp nhận ít hơn. Tuy nhiên, việc tuân thủ nghiêm ngặt việc ăn kiêng nhất là kiêng sử dụng những thực phẩm giàu protein (thường đồng nghĩa với thực phẩm giàu lượng purin) là một thách thức lớn đối với bệnh nhân. Vì vậy cần phải có sự dung hoà giữa một chế độ ăn kiêng hiệu quả và nhu cầu chính đáng của người bệnh là xác định được khẩu phần ăn hợp lý, ngon miệng và hợp khẩu vị.
– Các nguyên tắc vệ sinh ăn uống đối với bệnh nhân gout là chế độ ăn giảm đạm, giảm mỡ, giảm cân (nếu béo phì) và uống nhiều nước (khoảng 2-3 lít nước/ngày), đặc biệt là nước khoáng kiềm (để tăng cường thải tiết acid uric qua nước tiểu).

benh-gut-co-di-truyen-khong

Bệnh gout có di truyền không ?

Bệnh Gút có di truyền không ? Nếu mắc bệnh gút do di truyền có...
Hình ảnh nhậu nhệt ảnh internet

Nhậu nguyên nhân chính gây nên bệnh gút

Theo thống kê của bộ y tế 63% người sử dụng rượu bia là nam giới, Người...
benh-gout-la-gi

Bệnh gút là bệnh gì

Bệnh gút tiếng anh có tên gọi là Gout, Việt Nam thì gọi là bệnh...
Hình ảnh biểu hiện các vị trí thường gặp của cơn gút cấp tính

Bệnh gút cấp tính có biểu hiện như thế nào

Bệnh gút ở giai đoạn cấp có những biểu hiện đặc trưng sau:  Xuất hiện đột...
Hình ảnh minh họa: biểu hiện bệnh gút

Biểu hiện của cơn đau gút cấp tính

Biểu hiện của cơn đau gút cấp tính thường xảy ra sau bữa ăn có...