Blog

44
Tinh thể hình kim dưới kính hiển vi phân cực
Tinh thể hình kim dưới kính hiển vi phân cực

Bệnh gút là gì  ?

Gút là bệnh khớp vi tinh thể do rối loạn chuyển hóa các nhân purin, có đặc điểm chính là tăng acid uric máu, bão hòa acid uric ở dịch ngoại bào gây lắng đọng tinh thể monosodium urat ở các mô. Các triệu chứng lâm sàng chính là: viêm khớp do gút, hạt tophi, bệnh thận do gút và sỏi uric.

Gút là bệnh thường gặp ở các nước phát triển nhưng hiện nay cũng thường thấy ở các nước đang phát triển và bệnh có xu hướng tăng lên, theo các nghiên cứu tại Anh tỷ lệ gút đã tăng từ 0,14 % năm 1975 lên 1,4% năm 2005

Tại Việt Nam trong giai đoạn 1978-1989 tỷ lệ bệnh gút chiếm 1,5% các BN mắc bệnh cơ xương khớp điều trị nội trú tại khoa cơ xương khớp bệnh viện Bạch Mai và theo một nghiên cứu trong 10 năm (1991-2000) thì tỷ lệ này là tăng lên là 8,57%. Bệnh gặp chủ yếu ở nam giới, tuổi trung niên và một số có tính chất gia đình. Nghiên cứu dịch tế cho Tổ chức Y tế thế giới và hội thấp khớp học châu Á- Thái Bình Dương tiến hành tại một số tỉnh miền Bắc Việt Nam vào năm 2000 cho thấy tỷ lệ mắc gút là 0,14% ở người trưởng thành.

Sự tích lũy acid uric ở mô, tạo nên các microphi. Khi các hạt tophi tại sụn khớp vỡ sẽ khởi phát cơn gút cấp do sự lắng đọng vi tinh thể tại khớp, trong màng hoạt dịch, trong mô sụn và mô xương sẽ dẫn đến bệnh xương khớp mạn tính do gút, sự có mặt vi tinh thể urat tại mô mềm, bao gân tạo nên hạt tophi và cuối cùng viêm thận kẽ là do tinh thể urat lắng đọng tại tổ chức kẽ của thận. Acid uric niệu tăng và sự toan hóa nước tiểu dẫn đến sỏi tiết niệu trong bệnh gút

Tinh thể hình kim dưới kính hiển vi phân cực
Tinh thể hình kim dưới kính hiển vi phân cực

>> Nguyên nhân gây bệnh gout là gì

 

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh hay gặp nhất trong các bệnh khớp. Là một bệnh mang tính chất xã hội vì sự thường có, vì sự diễn biến kéo dài và vì hậu quả dẫn đến sự tàn phế của bệnh.

viem khop dang thap
viem khop dang thap

Bệnh Viêm khớp dạng thấp đã được biết từ lâu nhưng cho tới gần đây mới có được sự thống nhất về tên gọi, về tiêu chuẩn chẩn đoán và về cơ chế sinh bệnh. Bệnh có nhiều tên gọi: Thấp khớp teo đét, bệnh khớp Charcot, viêm khớp dạng thấp, viêm đa khớp mạn tính tiến triển, viêm đa khớp nhiễm khuẩn không đặc hiệu, thấp khớp mạn tính dính và biến dạng, viêm đa khớp dạng thấp.
Hiện nay bệnh được mang tên Viêm khớp dạng thấp để phân biệt với các bệnh khớp khác (thấp khớp cấp, viêm khớp mạn tính thiếu niên, thấp khớp phản ứng). Bệnh Viêm khớp dạng thấp gặp ở mọi nơi trên thế giới, bệnh chiếm từ 0,5 – 3% dân số (ở người lớn). Ở Việt Nam có tỷ lệ 0,5% trong nhân dân và 20% số bệnh nhân mắc bệnh khớp điều trị ở bệnh viện. Có thể nói Viêm khớp dạng thấp là bệnh của phụ nữ tuổi trung niên, vì 70 – 80% bệnh nhân là nữ và 60 – 70% có tuổi trên 30. Bệnh có tính chất gia đình trong một số trường hợp.
I. Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh
1. Nguyên nhân: Trước đây có nhiều giả thuyết được đưa ra về nguyên nhân bệnh, gần đây người ta coi Viêm khớp dạng thấp là một bệnh tự miễn với sự tham gia của nhiều yếu tố.
Yếu tố tác nhân gây bệnh: có thể là một loại virus nhưng hiện nay chưa được xác minh chắc chắn.
Yếu tố cơ địa: bệnh có liên quan rõ rệt đến giới tính và lứa tuổi.
Yếu tố di truyền: từ lâu người ta đã nhận thấy bệnh Viêm khớp dạng thấp có tính chất gia đình. Có nhiều công trình nghiên cứu nêu lên mối liên quan giữa bệnh Viêm khớp dạng thấp và yếu tố kháng nguyên hòa hợp tổ chức HLA DR4 (ở bệnh nhân Viêm khớp dạng thấp thấy 60 – 70% mang yếu tố này, trong khi ở người bình thường chỉ có 30%).
Các yếu tố thuận lợi khác: đó là những yếu tố phát động bệnh như suy yếu, mệt mỏi, bệnh truyền nhiễm, lạnh và ẩm kéo dài, phẫu thuật.
2. Cơ chế bệnh sinh:
Lúc đầu tác nhân gây bệnh (virus) tác động vào một cơ thể có sẵn cơ địa thuận lợi và có những yếu tố di truyền dễ tiếp nhận bệnh, cơ thể đó sinh ra kháng thể chống lại tác nhân gây bệnh, rồi kháng thể này lại trở thành tác nhân kích thích cơ thể sinh ra một kháng thể chống lại nó (ta gọi là tự kháng thể). Kháng thể (lúc đầu) và tự kháng thể với sự có mặt của bổ thể, kết hợp với nhau ở trong dịch khớp thành những phức hợp kháng nguyên – kháng thể. Những phức hợp kháng nguyên – kháng thể được một số tế bào đi đến để thực bào, đó là BCĐNTT và đại thực bào, sau đó những tế bào này sẽ bị phá hủy bởi chính các men tiêu thể mà chúng giải phóng ra để tiêu các phức hợp kháng nguyên – kháng thể trên. Sự phá hủy các tế bào thực bào giải phóng nhiều men tiêu thể, những men tiêu thể này sẽ kích thích và hủy hoại màng hoạt dịch khớp gây nên một quá trình viêm không đặc hiệu, quá trình này kéo dài không chấm dứt, đi từ khớp này qua khớp khác, mặc dù tác nhân gây bệnh ban đầu đã chấm dứt từ lâu.
Tình trạng viêm không đặc hiệu của màng hoạt dịch khớp lúc đầu là phù nề, xung huyết, thâm nhập nhiều tế bào viêm mà phần lớn là tế bào đa nhân trung tính, sau một thời gian hiện tượng phù nề được thay bằng quá trình tăng sinh và phì đại của các hình lông và lớp liên bào phủ, các tế bào viêm có thành phần chủ yếu là Lympho bào và Plasmocyte. Các hình lông của màng hoạt dịch tăng sinh và phì đại sẽ phát triển ăn sâu vào đầu xương phần dưới sụn khớp gây nên các thương tổn ở phần này. Cuối cùng, sau một thời gian tiến triển kéo dài, tổ chức xơ phát triển sẽ thay thế cho tổ chức viêm và dẫn đến tình trạng biến dạng và dính khớp. Do đó, có thể nói tổn thương xuất hiện sớm nhất, cơ bản nhất là nguyên nhân dẫn đến mọi tổn thương khác trong bệnh Viêm khớp dạng thấp là tình trạng viêm không đặc hiệu mạn tính của màng hoạt dịch khớp.
Tiêu chuẩn chẩn đoán Viêm khớp dạng thấp ACR (American College of Rheumatology) 1987:
Gồm 7 tiêu chuẩn như sau:
1. Cứng khớp buổi sáng kéo dài trên 1 giờ.
2. Viêm ≥ 3/14 khớp: ngón gần, bàn ngón tay, cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân (x 2).
3. Sưng ≥ 3 vị trí: ngón gần, bàn ngón tay, cổ tay.
4. Có tính chất đối xứng.
5. Hạt dưới da.
6. Yếu tố dạng thấp huyết thanh (kỹ thuật đạt độ đặc hiệu 95%) dương tính.
7. X quang điển hình (hình bào mòn, mất vôi thành dải).
Thời gian diễn biến của bệnh phải ≥ 6 tuần.
Chẩn đoán (+) ≥ 4/7 tiêu chuẩn.
II. Triệu chứng lâm sàng viêm khớp dạng thấp
Đa số trường hợp bệnh bắt đầu từ từ tăng dần, nhưng có khoảng 15% bắt đầu đột ngột với các dấu hiệu cấp tính. Trước khi các dấu hiệu khớp xuất hiện, bệnh nhân có thể có các biểu hiện như sốt nhẹ, mệt mỏi, gầy sút, tê các đầu chi, ra nhiều mồ hôi, rối loạn vận mạch.
A. Viêm khớp:
1. Giai đoạn bắt đầu (khởi phát):
Vị trí ban đầu: 2/3 trường hợp bắt đầu bằng viêm một khớp, trong đó 1/3 bắt đầu bằng viêm một trong các khớp nhỏ ở bàn tay (cổ tay, bàn ngón, ngón gần), 1/3 bằng khớp gối và 1/3 là các khớp còn lại.
Tính chất: sưng đau rõ, ngón tay thường có hình thoi, dấu hiệu cứng khớp buổi sáng thường thấy từ 10 – 20%. Bệnh diễn biến kéo dài từ vài tuần đến vài tháng, rồi chuyển sang giai đoạn rõ rệt.
2. Giai đoạn rõ rệt (toàn phát):
a. Vị trí viêm khớp:
Bàn tay 90% Cổ tay 90% Khớp ngón gần 80% Khớp bàn ngón 70%
Khớp gối 90%
Bàn chân 70% Cổ chân 60% Ngón chân 60%
Khớp khuỷu 60%
Các khớp khác: háng, cột sống, hàm, ức đòn hiếm gặp và thường xuất hiện muộn.
b. Tính chất viêm:
Đối xứng 95%.
Sưng phần mu tay hơn lòng bàn tay.
Sưng, đau và hạn chế vận động, ít nóng đỏ, có thể có nước ở khớp gối.
Có dấu hiệu cứng khớp buổi sáng 90%.
Đau tăng nhiều về đêm (gần sáng).
Các ngón tay có hình thoi, nhất là các ngón 2, 3, 4.
c. Diễn biến: Các khớp viêm tiến triển tăng dần và nặng dần, phát triển thêm các khớp khác. Các khớp viêm dần dần dẫn đến tình trạng dính và biến dạng, bàn ngón tay dính và biến dạng ở tư thế nửa co và lệch trục về phía xương trụ (bàn tay gió thổi, ngón tay hình cổ cò), khớp gối dính ở tư thế nửa co.
B. Triệu chứng toàn thân và ngoài khớp:
a. Toàn thân: Bệnh nhân gầy sút, mệt mỏi, ăn ngủ kém, da niêm mạc xanh nhợt do thiếu máu, có những biểu hiện rối loạn thần kinh thực vật …
b. Biểu hiện ngoài da:
Hạt dưới da: 10 – 20% (ở Việt Nam chỉ thấy trong 5% trường hợp) được coi như một dấu hiệu đặc hiệu. Đó là những hạt hay cục nổi lên khỏi mặt da, chắc, không đau, không có rỗ lò, không di động vì dính vào nền xương ở dưới, có kích thước từ 5 mm đến 20 mm đường kính.
Vị trí hay gặp nhất là trên xương trụ gần khớp khuỷu, hoặc trên xương chày gần khớp gối, hoặc quanh các khớp khác, số lượng có từ một đến vài hạt.
Da khô, teo và xơ, nhất là các chi.
Gan bàn tay và chân giãn mạch, đỏ hồng.
Rối loạn dinh dưỡng và vận mạch có thể gây loét vô khuẩn ở chân, phù một đoạn chi, nhất là chi dưới.
c. Cơ, gân, dây chằng, bao khớp:
Teo cơ rõ rệt ở vùng quanh khớp tổn thương: cơ liên cốt và cơ giun bàn tay, cơ ở đùi, cẳng chân. Teo cơ là hậu quả do không vận động.
Viêm gân: hay gặp viêm gân Achille.
Dây chằng: phần lớn là viêm co kéo, nhưng có những trường hợp giãn dây chằng gây lỏng lẻo khớp.
Bao khớp: có thể phình ra thành các kén (kyste) hoạt dịch ở vùng khoeo chân có tên là kén Baker.
d. Nội tạng: rất hiếm gặp trên lâm sàng.
Tim: tổn thương cơ tim kín đáo, có thể biểu hiện viêm màng ngoài tim, rối loạn dẫn truyền, ít thấy tổn thương màng trong tim và van tim.
Hô hấp: viêm màng phổi nhẹ, xơ phế nang.
Hạch: hạch nổi to và đau ở mặt trong cánh tay.
Lách: lách to và giảm bạch cầu trong hội chứng Felty.
Xương: mất vôi, gãy xương tự nhiên.
e. Mắt, thần kinh, chuyển hóa:
Mắt: viêm giác mạc, viêm mống mắt thể mi …
Thần kinh: viêm và xơ dính phần mềm quanh khớp, có thể chèn ép vào các dây thần kinh ngoại biên.
Thiếu máu nhược sắc mà nguyên nhân hiện nay chưa được biết rõ.
Rối loạn thần kinh thực vật.
Nhiễm amyloid có biểu hiện chủ yếu ở thận, thường xuất hiện rất muộn.
III. Xét nghiệm và X quang bệnh viêm khớp dạng thấp:
A. Xét nghiệm:
1. Xét nghiệm chung:
Công thức máu: HC giảm, nhược sắc, BC có thể tăng hoặc giảm.
Tốc độ lắng máu tăng.
Sợi huyết tăng, phản ứng lên bông (+).
Điện di Protein: albumine giảm và globuline tăng.
Một số xét nghiệm định lượng haptoglobin, seromucoid, crosomucoid và phản ứng C protein … có thể dương tính.
2. Các xét nghiệm miễn dịch:
Waaler – Rose và Latex: nhằm phát hiện yếu tố dạng thấp ở trong huyết thanh (tự kháng thể), đó là 1 globuline miễn dịch IgM có khả năng ngưng kết với globuline (IgG). Nếu dùng hồng cầu người hoặc cừu tiến hành phản ứng thì đó là phản ứng Waaler – Rose, nếu dùng hạt nhựa Latex thì gọi là test Latex.
Waaler – Rose (+) khi ngưng kết với độ pha loãng huyết thanh bệnh nhân < 1/16, test Latex (+) khi ngưng kết với độ pha loãng < 1/32.
Các phản ứng này thường (+) muộn sau khi mắc bệnh trên 1 năm. Tỷ lệ (+) khoảng 70 – 80% trường hợp, mức độ (+) của phản ứng không song song với mức độ nặng nhẹ của bệnh.
Hình cánh hoa hồng dạng thấp: dùng hồng cầu đã gắn gama globuline ủ với Lympho bào của bệnh nhân, nếu (+) sẽ thấy hình ảnh cánh hoa hồng mà lympho bào ở giữa bao quanh là những hồng cầu. Hiện tượng này thấy trong 10% trường hợp.
Các xét nghiệm miễn dịch khác: ít được sử dụng trên lâm sàng vì không có giá trị đặc hiệu, miễn dịch điện di, chuyển dạng lympho bào, di tản bạch cầu, định lượng các thành phần bổ thể.
Trong một số trường hợp (5 – 10%) có thể tìm thấy tế bào Hargraves, kháng thể kháng nguyên, kháng thể kháng acid nhân, kháng thể kháng quanh nhân ở trong máu bệnh nhân, tuy nhiên các xét nghiệm này ít giá trị trong chẩn đoán bệnh viêm khớp dạng thấp.
3. Dịch khớp:
Lượng mucin giảm rõ rệt, dịch khớp lỏng, giảm độ nhớt, có màu vàng nhạt.
Lượng tế bào tăng nhiều, nhất là đa nhân trung tính, thấy xuất hiện những BCĐNTT mà trong bào tương có nhiều hạt nhỏ, đó là những tế bào đã nuốt phức hợp kháng nguyên – kháng thể, người ta gọi chúng là những tế bào hình nho, khi tế bào hình nho chiếm trên 10% số tế bào dịch khớp thì có giá trị để chẩn đoán viêm khớp dạng thấp.
Lượng bổ thể trong dịch khớp giảm (so với trong máu).
Phản ứng Waaler – Rose, test Latex có độ (+) sớm hơn và cao hơn so với máu (dùng dịch khớp để tiến hành xét nghiệm).
B. Sinh thiết:
Người ta thường sinh thiết màng hoạt dịch hoặc hạt dưới da để chẩn đoán những trường hợp khó.
1. Sinh thiết màng hoạt dịch: tiến hành ở khớp gối bằng kim sinh thiết qua nội soi hoặc bằng phẫu thuật. Trong Viêm khớp dạng thấp thấy 5 tổn thương sau:
Sự tăng sinh các hình lông của màng hoạt dịch.
Tăng sinh của lớp tế bào phủ hình lông, từ một lớp phát triển thành nhiều lớp.
Xuất hiện những đám hoại tử giống như tơ huyết (dạng tơ huyết: nécrose fibrinoide).
Tăng sinh nhiều mạch máu tân tạo ở phần tổ chức đệm.
Thâm nhập nhiều tế bào viêm quanh các mạch máu, mà chủ yếu là Lympho bào và Plasmocyte.
Khi thấy có từ 3 tổn thương trở lên có thể hướng đến chẩn đoán xác định.
2. Sinh thiết hạt dưới da:
Ở giữa là 1 đám lớn hoại tử dạng tơ huyết.
Xung quanh bao bọc bởi rất nhiều tế bào loại Lympho bào và Plasmocyte.
C. X quang:
1. Những dấu hiệu chung:
Giai đoạn đầu: thấy tình trạng mất vôi ở đầu xương và cản quang ở phần mềm quanh khớp.
Sau một thời gian thấy xuất hiện những hình khuyết nhỏ hay bào mòn xương phần tiếp giáp giữa sụn khớp và đầu xương, khe khớp hẹp do sụn khớp bị tổn thương.
Sau cùng là tình trạng hủy hoại phần sụn khớp và đầu xương gây nên dính và biến dạng khớp.
2. Hình ảnh đặc biệt: Cần chụp hai bàn tay với khối xương cá cổ tay, các khớp bàn ngón và ngón tay. Những dấu hiệu X quang ở bàn ngón tay thường xuất hiện sớm nhất và đặc hiệu nhất:
Khe khớp và ranh giới giữa các xương cá hẹp và mờ, sau dần sẽ dính lại thành một khối.
Đầu xương bàn tay và ngón tay xuất hiện các hình khuyết, khe khớp hẹp rồi dính khớp.
Không thấy tổn thương ở khớp ngón xa.
IV. Tiến triển, biến chứng, tiên lượng viêm khớp dạng thấp
A. Tiến triển:
Bệnh có diễn biến kéo dài nhiều năm, phần lớn có tiến triển từ từ tăng dần, nhưng có tới ¼ trường hợp có tiến triển từng đợt, có những giai đoạn lui bệnh rõ rệt. Rất hiếm thấy trường hợp lui dần rồi khỏi hẳn.
Bệnh có thể tiến triển nặng lên khi bị nhiễm khuẩn, lạnh, chấn thương, phẫu thuật.
Trong quá trình diễn biến của bệnh, người ta chia ra 4 giai đoạn dựa theo chức năng vận động và tổn thương X quang, còn gọi là giai đoạn của Steinbroker.
1. Giai đoạn I: tổn thương mới khu trú ở màng hoạt dịch, sưng đau chỉ ở phần mềm, X quang chưa có thay đổi, bệnh nhân còn vận động được gần như bình thường.
2. Giai đoạn II: tổn thương đã ảnh hưởng một phần đến đầu xương, sụn khớp. Trên hình ảnh X quang có hình khuyết, khe khớp hẹp. Khả năng vận động bị hạn chế, tay còn nắm được, đi lại bằng gậy, nạng.
3. Giai đoạn III: tổn thương nhiều ở đầu xương, sụn khớp, dính khớp một phần. Khả năng vận động còn ít, bệnh nhân chỉ còn tự phục vụ mình trong sinh hoạt, không đi lại được.
4. Giai đoạn IV: dính khớp và biến dạng trầm trọng, mất hết chức năng vận động, tàn phế hoàn toàn. Giai đoạn này thường gặp sau 10 – 20 năm.
Theo một thống kê sau 10 năm ta thấy khoảng 50% vẫn ở giai đoạn I, II. Khoảng 40% ở giai đoạn III, chỉ có 10% ở giai đoạn IV.
B. Biến chứng và tiên lượng:
Trong quá trình tiến triển, bệnh nhân có thể bị các biến chứng:
Nhiễm khuẩn phụ, nhất là lao.
Các tai biến do dùng thuốc điều trị Viêm khớp dạng thấp: Steroid, thuốc chống viêm, thuốc giảm đau, Chloroquin, muối vàng, thuốc ức chế miễn dịch.
Chèn ép thần kinh: do tổn thương phần mềm quanh đường đi của các dây thần kinh ngoại biên, hoặc tổn thương cột sống cổ chèn ép tủy cổ.
Biến chứng tim, thận và mắt: hiếm.
Tiên lượng của bệnh dựa vào nhiều yếu tố, bệnh thường nặng nếu có biểu hiện nội tạng, số khớp viêm nhiều, phản ứng Waaler – Rose (-), chẩn đoán và điều trị muộn.
V. Thể lâm sàng của bệnh viêm khớp dạng thấp:
A. Thể bệnh theo triệu chứng:
1. Thể một khớp: hay gặp ở khớp gối, chẩn đoán khó, cần tiến hành sinh thiết màng hoạt dịch.
2. Thể có lách to: hội chứng Felty, bệnh nhân có lách to, bạch cầu giảm, đôi khi có gan to, nổi hạch và xạm da.
3. Thể có kèm hội chứng Sjogren Gougerot: Viêm khớp dạng thấp có viêm teo tuyến nước bọt và tuyến nước mắt, còn gọi là hội chứng khô mắt và miệng.
4. Thể xuất hiện sau bệnh bụi phổi: (hội chứng Caplan), thường là nhiễm bụi than và bụi silic.
B. Thể bệnh theo tiến triển:
1. Thể lành tính: tiến triển chậm, số lượng khớp bị ít.
2. Thể nặng: nhiều khớp, có sốt, có biểu hiện nội tạng, tiến triển nhanh và liên tục
3. Thể ác tính: sốt cao, tràn dịch khớp, tiến triển rất nhanh dẫn đến dính và biến dạng khớp.
C. Thể theo cơ địa:
1. Thể ở nam giới: nhẹ và không điển hình.
2. Thể ở người già: mắc bệnh sau 60 tuổi, bệnh nhẹ, dễ nhầm với thoái hóa khớp.
3. Thể có phản ứng Waaler – Rose (-): gọi là thể huyết thanh âm tính. Bệnh nặng, điều trị khó.

Cholesterol
Cholesterol

Cholesterol là gì ? 

Cholesterol là một loại chất béo được tìm thấy trong máu.  Cơ thể của quý vị sử dụng cholesterol vì nhiều lý do, nhưng hàm lượng cholesterol cao sẽ làm tăng nguy cơ bị bệnh tim, đau tim hoặc đột qụy.

Cholesterol-images

Cholesterol-images

 Cholesterol Tốt và Cholesterol Xấu

Không phải tất cả cholesterol trong máu đều xấu. Có hai loại cholesterol trong máu mà quý vị nên biết: HDL (cholesterol tốt) và LDL (cholesterol xấu)

Cholesterol Tốt
  • Cholesterol tốt gọi là HDL
  • Giúp cho động mạch không bị tắc.
  • Hàm lượng tốt = 60mg/dL hoặc cao hơn

Cholesterol Xấu

  • Cholesterol xấu gọi là LDL
  • Tạo mảng bám trong động mạch dẫn đến tắc và đau tim hoặc đột quỵ
  • Gây bệnh tim
  • Hàm lượng tốt = dưới 100mg/dL cho bệnh tiểu đường và dưới 130 cho người không bị tiểu đường
Cholesterol

Cholesterol

Những điều làm Tăng Cao Nguy cơ Cholesterol trong Máu của Bạn 

Cơ thể của bạn tạo ra quá nhiều cholesterol. (Đây là đặc điểm di truyền của gia đình.)

Chế độ ăn của bạn có nhiều chất béo bão hòa hoặc cholesterol.

Chế độ ăn của bạn có nhiều đường.

Bạn bị bệnh tiểu đường, suy tuyến giáp hoặc bệnh thận.

 

Những Việc bạn Có thể Làm để Giảm Hàm lượng LDL-Cholesterol

10-High-Cholesterol-Foods-to-Avoid

10-High-Cholesterol-Foods-to-Avoid

Tránh những loại thực phẩm sau đây:

10-High-Cholesterol-Foods-to-Avoid

  • Thịt mỡ, nội tạng (như gan) và thực phẩm chiên
  • Sản phẩm sữa nguyên kem
  • Bánh quy, bánh xốp và bánh ngọt (nhất là loại bán ở tiệm có “chất béo trans”)

Ăn nhiều các loại thực phẩm sau đây:

  •  1% béo hoặc sữa gầy (1 ly sữa nguyên kem có nhiều chất béo bằng 4 miếng thịt hun khói)
  •  Ức gà không da, cá và thịt nạc (như thịt heo hay thịt thăn bò còn gọi là “thịt lưng”).

Thực phẩm có nhiều chất xơ:

  • Yến mạch, lúa mạch và hạt nguyên cám khác (tránh yến mạch đường)
  • Đậu (một số loại như garbanzo, đậu tây, đậu rằng và đậu đen)
  • Trái cây như chuối và táo
  • Rau củ như cải Bruxen và cà rốt

Nếu bạn thừa cân, thì phải cố gắng giảm cân.

Cố gắng giảm cân bằng cách giảm ăn uống. Chỉ cần giảm một ít trọng lượng cũng có thể giúp giảm cholesterol xấu và cũng giúp cho sức khỏe của bạn theo cách khác.

Hỏi bác sĩ của mình xem bạn có cần dùng thuốc giảm cholesterol không.

Làm thế nào để Biết Cholesterol của bạn có Cao Hay không

  • Đến bác sĩ và yêu cầu xét nghiệm cholesterol. Xét nghiệm này cho biết bạn có bao nhiêu cholesterol tốt và xấu.
  • Bác sĩ sẽ cho biết con số hàm lượng cholesterol toàn phần của bạn.
  • Con số hàm lượng cholesterol toàn phần của bạn nên dưới 200.

Bản dịch Thông tin Sức khỏe: www.healthinfotranslations.org

2797

Bệnh gút nên ăn gì ?

Có nhiều cách để giảm thiểu các cơn đau do bệnh gút gây ra, việc tránh 14 loại thực phẩm dưới đây cũng là một cách hiệu nghiệm được nhiều bác sỹ chuyên khoa trên thế giới khuyên

Tìm hiểu về mối liên hệ giữa bệnh gút và thực phẩm
Gout là gì ? Bệnh Gút hình thành do các tin thể acid uric lắng đọng xung quanh khớp, gây đau nhức và ăn mòn khớp. Để có cái nhìn tổng quan hơn về căn bệnh này, mới bạn xem thêm tại đây.

Nam giới là đối tượng có nguy cơ mắc bệnh gút cao hơn nữ giới, mà phẩn lớn là do các cuộc nhậu nhẹt, party và chế độ ăn uống không hợp lý.

Các yếu tố gây ra bệnh gút và các cơn đau do gút, bao gồm:

    • Thừa cân – nhiều bệnh nhân bị bệnh gút là thừa cân hoặc béo phì
    • Rượu, bia – các cơn đau Gout cấp tính thường gia tăng theo lượng rượu bia mà bạn nạp vào cơ thể
    • Thức ăn nhiều purin – thực phẩm ăn giàu purin (thịt, cá, bọc trứng cá)
    • Tình trạng đói hay do bữa ăn nghèo nàn không cung cấp đủ năng lượng – mức urate trong máu tăng lên đáng kể khi các protein cơ thể bị phá vỡ do nhịn đói hoặc ăn rất ít.
    • Bệnh thận – tình trạng suy thận mãn tính làm giảm khả năng bài tiết acid uric ra khỏi cơ thể, nó gián tiếp gây ra bệnh gút.
    • Các bệnh khác – bệnh như bệnh bạch cầu hoặc bệnh vẩy nến có thể làm gia tăng hàm lượng kết tủa của acid uric.

Thuốc – một số loại thuốc sẽ làm giảm sự bài tiết của acid uric, chẳng hạn như thuốc lợi tiểu thiazide, có thể gây ra các cơn đau gút cấp tính.

Rõ ràng chế độ ăn uống hàng ngày của bạn đóng vai trò rất lớn trong việc phòng và điều trị gút.

Thay đổi lối sống, tập các thói quen lành mạnh
+ Giảm cân : giảm cân một cách khoa học, tránh việc nhin đói để giảm cân vì nó chỉ đem lại tác dụng ngược cho bạn mà thôi.
+ Tránh uống nhiều rượu, bia: Hạn chế nhậu nhẹt, party, uống rượu bia. Một cách hạn chế khó khăn với đấng mày âu nhưng hiệu quả phòng ngừa bệnh gút của nó lại rất cao.
+ Tránh ăn các chất béo và đạm có chứa purin: Tìm hiểu về hàm lượng purin trong các loại thực phẩm được liệt kê dưới đây
+ Uống nước: Người bị gút nên uống nhiều nước hơn người bình thường. Nước làm loãng acid uric trong máu giúp thận bài tiết dễ dàng hơn.
+ Đồ uống chứa cafein: Đừng lạm dụng trà và cà phê quá nhiều.

Các nguyên tắc cơ bản của chế độ ăn uống hạn chế purin
+ Nước – Uống ít nhất sáu ly nước mỗi ngày và chắc chắn rằng bạn có uống một ly trước khi bạn đi ngủ. Việc này giúp loại bỏ axit uric ra khỏi cơ thể rất hiệu quả.
+ Đậu hũ (đậu phụ) – Sử dụng như là nguồn protein thay thế thịt. Các nghiên cứu cho thấy nó làm tăng khả năng bài tiết acid uric ra khỏi cơ thể.
+ Rượu, bia – nên tránh và hạn chế thấp nhất 2 loại đồ uống này.

Những loại thực phẩm nên tránh tuyệt đối:
Tránh các loại thực phẩm có hàm lượng purine cao. Các loại thực phẩm sau đây chứa 100-1 000 mg purin trong 100 g thực phẩm:

  • Cá cơm
  • Nội tạng động vật, đặc biệt là bộ não
  • Nước dùng
  • Ngỗng
  • Nước sốt
  • Tim
  • Cá trích
  • Thận
  • Cá thu
  • Chiết xuất từ ​​thịt
  • Thịt đỏ
  • Trai
  • Trứng cá
  • Cá mòi
  • Nấm men

Các loại thực phẩm có hàm lượng purine trung bình
Những thực phẩm này có chứa 9-100 mg purin nitơ trong 100 g thực phẩm. Tùy thuộc vào tình trạng của người bệnh có thể ăn uống kết hợp để duy trì mức acid uric trong cơ thể :

  • Măng tây
  • Đậu khô
  • Đậu lăng
  • Thịt, cá và gia cầm (ngoại trừ những gì đã nêu trên)
  • Nấm
  • Đậu Hà Lan khô
  • Động vật có vỏ
  • Rau bina

Các loại thực phẩm có hàm lượng purine thấp
Những thực phẩm này chứa một lượng purin không đáng kể và có thể được sử dụng hàng ngày:

  • Bánh mì (trắng) và bánh quy giòn
  • Bơ hoặc bơ thực vật (dùng trong chừng mực)
  • Bánh và cookie
  • Đồ uống có ga
  • Ngũ cốc
  • Pho mát
  • Sôcôla
  • Cà phê
  • Cream (dùng trong chừng mực)
  • Món sữa trứng
  • Trứng
  • Chất béo (dùng trong chừng mực)
  • Các loại trái cây
  • Kem
  • Sữa
  • Mì sợi
  • Quả hạch
  • Dầu Ô-liu
  • Mỳ ống
  • Bắp rang
  • Bánh pudding
  • Gia vị
  • Cơm
  • Muối
  • Đường và đồ ngọt
  • Trà
  • Các loại rau (ngoại trừ những loại đã liệt kê ở nhóm đầu tiên)
  • Giấm

Gà là một loài gia cầm được nuôi phổ biến trên thế giới, thịt gà chứa hàm lượng protein cao, giàu dinh dưỡng chính vì vậy mà nó được mọi người ưa thích và có mặt trong bữa ăn của mọi gia đình.

Thịt gà chứa nhiều dưỡng chất có lợi cho sức khoẻ, đặc biệt một số chất có tác dụng rất tốt cho bệnh nhân gút. Trong thịt gà chứa tất cả các loại vitamin B (B1, B2, B3, B5, B6, B12) cùng các khoáng chất như sắt, đồng phốt pho, lưu huỳnh ….và nhiều loại axit amin khác, rất tốt cho sức khoẻ của mọi người. Trong số các chất khoáng có ở thịt gà thì 2 loại sau đây có tác dụng rất lớn và có thể ngăn chặn thậm chí là đẩy lùi bệnh gút.

+ Selenium đóng vai trò rất quan trọng trong việc chuyển hóa của các cơ quan bài tiết như thận, gan. Chất này có tác dụng ngăn chăn sự kết tủa của acid uric, làm giảm nồng độ acid uric trong máu. Hàm lượng selenium trong thịt gà khá cao.

+ Phốt pho là một khoáng chất rất cần thiết, nó không chỉ hỗ trợ răng và xương phát triển bền chắc mà còn giúp tăng khả năng bài tiết của gan và thận.

Trái ngược với suy nghĩ từ bỏ, kiêng cử các loại thịt của nhiều bệnh nhân gút thì thịt gà là loại thịt nên ăn (điều độ và có kiểm soát), nó không những tốt cho sức khoẻ nếu biết chế biến và sử dụng đúng cách. Các chất khoáng có trong thịt gà chống lại sự loãng xương, viêm khớp và làm giảm dần những nguy cơ dẫn đến các vấn đề về xương-khớp, ngăn chặn bệnh gút phát triển. Mặt khác, homocysteine – một chất gây ra bệnh tim mạch có thể được kiếm soát tốt nhất bằng một loại acid amin đặc biệt trong thịt gà .

Thịt gà có chứa nhiều Purin

Thịt gà chứa một lượng purin khá lớn, tuy nhiên những người mắc bệnh gút vẫn có thể ăn thịt gà miễn không vượt quá 110mg – 175mg mỗi ngày. Làm thế nào để định mức Purin có trong thịt gà?

+ 100g ức gà chứa đến 175mg acid uric.
+ 100g chân gà chứa khoảng 110mg acid uric.

Bạn có thể chế biến thịt gà để giảm hàm lượng acid uric bằng cách : bỏ da sau đó nướng hoặc luộc nhưng không nên chiên, tránh thêm nước sốt kem hoặc nước thịt vì chúng chứa nhiều purin.

Xem thêm thông tin chi tiết về bệnh Gout tại đây : http://viengut.com/benh-gout/benh-gut-la-gi/

Công dụng của Febuxostat trong điều trị gút

Febuxostat là loại thuốc điều trị gút được sử dụng cho mục đích làm giảm nồng độ acid uric trong máu ở những bệnh nhân gút. Nó ức chế  enzyme xanthine oxidase (enzyme chuyển hoá Purin thành acid uric), khiến nồng độ axit uric trong máu giảm xuống. Điều này giúp ngăn ngừa bệnh gút, tuy nhiên phải sử dụng thuốc trong thời gian dài và theo dõi chính xác tiến trình sử dụng thuốc.

Những lưu ý khi sử dụng febuxostat

Không được sử dụng febuxostat nếu:
+ Bạn bị dị ứng với bất kỳ thành phần trong febuxostat
+ Nồng độ acid uric trong máu của bạn đã ổn định.
+ Bạn có nồng độ acid uric trong máu cao nhưng không bị gout ví dụ hội chứng Lesch-Nyhan, ung thư, điều trị ung thư, ghép tạng)
+ Bạn đang sử dụng thuốc có chứa azathioprine, didanosine, hoặc mercaptopurine.

Trước khi sử dụng febuxostat:
Febuxostat có thể gây ra một số tác dụng phụ vì vậy bạn cần cân nhắc trước khi sử dụng, không nên sử dụng Febuxostat trong các trường hợp sau :

+ Nếu bạn đang mang thai, dự định có thai, hoặc đang cho con bú
+ Nếu bạn bị dị ứng với thuốc, một vài loại thực phẩm (hỏi bác sỹ của bạn vì nó không cố định)
+ Nếu bạn đang bị bệnh gan hoặc bệnh thận
+ Nếu bạn có tiền sử bệnh tim (ví dụ, một cơn đau tim) hay đột quỵ
+ Nếu bạn đang sử dụng : Azathioprine, didanosine, mercaptopurine, và theophylline thì cần lưu ý rằng chúnglà những loại thuốc có thể tương tác với Febuxostat tạo ra những tác dụng phụ không mong muốn.

* Trong khoảng thời gian đầu sử dụng Febuxostat, thuốc có thể gây ra các cơn gút nhiều hơn nhưng điều đó là bình thường và bạn không cần phải lo lắng.

** Febuxostat có thể tương tác với một vài loại thuốc khác, vì vậy bạn cần tham khảo ý kiến bác sỹ nếu đang điều trị bệnh khác ngoài gút.

3179

Chúng ta thường được nghe rằng những người bị gút không nên ăn cá biển, mà đặc biệt là cá ngừ, vì hàm lượng purin cao của chúng có thể gây ra các cơn đau gút. Tuy nhiên người ta cũng hay thắc mắc rằng người bị gút có được ăn những loại cá khác ngoài cá ngừ không? Để trả lời cho câu hỏi này, trước tiên cần đi sâu xem xét về hàm lượng dinh dưỡng có trong các loại cá ở mỗi bữa ăn hàng ngày để biết chúng có lợi ích và ảnh hưởng như thế nào đến sức khoẻ của bạn.

Hàm lượng dinh dưỡng của các loại cá

Cá được coi là loại thực phẩm tốt nhất, nó có mặt ở hầu hết các bữa ăn gia đình trên toàn thế giới. Trong cá chứa rất nhiều đạm, vitamin D và đặc biệt một số loại cá chứa rất nhiều các axit béo omega-3 – một chất dinh dưỡng rất tốt cho sức khoẻ của mọi người, có khả năng chống lại rất nhiều bệnh tật phổ biến hiện nay. Axit béo Omega-3 cũng giúp phát triển não bộ, làm giảm nguy cơ mắc bệnh mất trí nhớ hoặc Alzheimer.
Những người bị gút có nên ăn cá

Ngoài ra ăn cá thường xuyên rất tốt cho tim. Trong thực tế, nó được coi là một trong những loại thực phẩm tốt nhất để có một trái tim khỏe mạnh. Một lần nữa rất nhiều nghiên cứu chứng minh rằng ăn cá thường xuyên sẽ giúp bạn tránh được nguy cơ đau tim hoặc đột quỵ. Những người bị gút nên lưu ý việc này vì họ có nguy cơ mắc bệnh đau tim và đột quỵ khá cao.

Bên cạnh đó hàm lượng vitamin D có trong cá giúp loại bỏ khả năng sói mòn khớp, xương do gút (hay viêm khớp dạng thấp) gây ra. Cá hồi là loại cá có chứa rất nhiều vitamin D.

Như bạn đã thấy, cá là thực phẩm rất có ích cho sức khỏe của mọi lứa tuổi, chưa kể những lợi ích khác không được liệt kê. Vậy tại sao mọi người thường khuyên những người bị gút không nên ăn cá ?! Điều này không sai, nhưng bạn cần ăn đủ lượng và đặc biệt tránh những loại cá có chứa quá nhiều đạm thì sẽ không cần phải kiêng loại thực phẩm tuyệt vời này nữa.

Người bị gút có thể ăn những loại cá nào?

Đối với những người mắc bệnh gút, chỉ nên ăn các loại cá có thịt màu trắng (đa số là cá sông) và hạn chế các loại cá thịt đỏ. Ví dụ như cá hồi, cá rô phi, cá diêu hồng, cá bơn…Các loại cá kể trên chứa khoảng 50 – 150 mg purin/ 100 gram, và không gây ảnh hưởng cho những người bị gút.Các loại cá nên hạn chế như cá cơm, cá mòi, cá thu, cá trích, bạch tuộc…
Người bị gút có thể ăn những loại cá nào
Lưu ý : Cách chế biến nên hạn chế dầu mỡ, bạn nên nướng hoặc luộc để ăn thay vì chiên.

Dầu cá có hại không ?

Purin có trong thịt cá nhưng lại không có ở dầu cá. Chính vì vậy, bạn hoàn toàn có thể sử dụng dầu cá để bổ sung EPA hoặc DHA mà không cần phải lo lắng. Một số loại dầu cá còn chứa rất nhiều Vitamin D, có tác dụng rất tốt cho sức khoẻ, tuy nhiên trước khi sử dụng bạn nên tìm hiểu kỹ về thành phần của chúng (thường in trên nhãn hộp), hoặc tham khảo ý kiến của bác sĩ xem có gây tác dụng phụ đối với các loại thuốc bạn đang sử dụng hay không.
dầu cá không chứa purin

Một số người mắc bệnh gút cho rằng dầu cá có tác dụng rất tốt đối với bênh gout vì hàm lượng Omega-3 trong dầu cá có tác dụng chống viêm mạnh mẽ.

Các bác sĩ, chuyên gia y tế thường khuyên “bạn chỉ nên ăn cá hai lần một tuần”. Tại sao? Cá là thực phẩm lành mạnh hơn, tốt hơn so với thịt bò, thịt cừu và thịt gà. Nếu bạn thích ăn cá, bạn có thể ăn mỗi ngày, nhưng chắc chắn rằng nó là loại thịt duy nhất bạn ăn ngày hôm đó để tránh làm tăng cao nồng độ acid uric trong máu.

Hy vọng qua bài dịch này bạn đã có cái nhìn tổng quát hơn về chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân gút và cũng tự trả lời được câu hỏi : “bệnh gút kiêng ăn gì?

Gout là căn bệnh đã có từ thời xa xưa, vào thời ấy nó được coi là căn bệnh của vua chúa. Nguyên nhân gây bệnh là do ăn quá dư đạm động vật, hải sản… dẫn đến lượng acid uric trong máu ngày càng tăng cao và tiến triển thành bệnh gout. Ngày nay, cuộc sống của mọi người đã trở nên tốt hơn, dư ăn dư mặc nên bất cứ ai cũng có thể bị gout. Chính vì vậy, cũng không thiếu các bài thuốc trị gút rất hiệu quả được áp dụng từ xa xưa đến nay, dưới đây là một số bài thuốc, mẹo hay… mời bạn cùng đọc qua :

Lá tía tô :
Ngoài tác dụng giải cảm,chữa đầy bụng, chữa ho, lá tía tô còn có tác dụng chặn đứng gần như ngay tức thời những con đau do gout gây ra. Nếu trong nhà có người bị gút, bạn nên thủ sẳn 1 ít lá tía tô trong tủ lạnh, sẽ có lúc phải cần dùng đến đấy.

Khi có dấu hiệu đau do bệnh gút, bạn chỉ cần lấy 1 nắm lá tía tô rửa sạch, bỏ vào nồi đun thật kỹ, (như sắc thuốc Bắc) rồi uống. Cơn đau sẽ hết ngay trong vòng nửa giờ.Hàng ngày dùng lá tía tô ăn như rau sống trong các bữa cơm đề phòng bệnh tái phát. Lúc nào thấy các khớp xương sắp bị sưng tấy lên, dùng lá tía tô nhai và nuốt ngay để chặn cơn đau lại.

Bài thuốc này không có tác dụng phụ, lại có tác dụng nhanh nên người bệnh có thể kiểm chứng công dụng của nó ngay lập tức.

Nước cải xanh :
Cải xanh (có nơi gọi là cải bẹ xanh, cải đắng) dùng để nấu nước uống hàng ngày. Nước uống này có tác dụng đào thải chất axit uric. Uống hàng ngày, thay nước lọc, dù thấy bệnh đã khả quan vẫn tiếp tục uống để axit uric không còn cơ hội tái tạo và tích tụ trong cơ thể nữa. Dần dần có thể khỏi hẳn bệnh gút.

Canh dưa leo:
Trong đông y, dưa leo có tính hàn, vị ngọt có tác động vào các kinh tì, vị, đại tràng. Dưa leo được dùng để điều trị một số bệnh như phù thủng, kiết lỵ và lợi tiểu (giúp giải độc, bài tiết acit uric ra khỏi cơ thể).

Dân gian thường dùng dưa leo và các loại thảo dược khác nấu canh để dùng như một loại thuốc chữa bệnh gút. Cách làm cũng đơn giản: 1 quả dưa leo bỏ ruột xắt mỏng, mộc nhĩ 1 nắm, muối 2,5 g, dầu vừng 25 g; Mỡ và xì dầu một ít vừa đủ; Xào mộc nhĩ trước, cho dưa leo vào sau, nêm gia vị.

Lá trầu và nước dừa :
Bài thuốc chữa gút từ công dụng của nước dừa và lá trầu được nhiều tờ báo có uy tín đưa tin như báo Lao Động, báo Thanh niên…cũng là một trong những bài thuốc ít tốn kém mà hiệu quả cũng rất khả quan.

Mỗi sáng thức dậy dùng 100 g lá trầu tươi, xắt nhuyễn ngâm vào trong một trái dừa xiêm vừa vạt nắp gáo. Nên chắt bớt một chút nước dừa ra để khỏi bị tràn khi cho lá trầu nhuyễn vào, sau đó đậy nắp lại và ngâm đúng 30 phút, rồi chắt ra ly, uống một mạch. Không ăn sáng ngay mà chờ đến khi nước dừa, trầu được cơ thể hấp thu hoàn toàn, lúc đi tiểu trở lại rồi mới ăn sáng. Làm như vậy trong vòng một tuần thì các cơn đau nhức do bệnh gút về đêm sẽ giảm hẳn. Người bệnh có thể ngủ ngon một mạch đến sáng và cảm thấy tươi tỉnh ra, cũng vì thế mà đầu óc minh mẫn, dễ chịu.